Thứ hai,  17/05/2021

Hồn quê

Xong việc, tạm biệt Ái Quốc, xã vùng III xa xôi, hẻo lánh của huyện Lộc Bình, nơi mà không phải người dân trong huyện nào cũng có cơ may đến được, chúng tôi rất vui. Vui vì hoàn thành công việc cơ quan giao cho và còn vui vì gặp rất nhiều điều thú vị trong cuộc sống mà nếu chỉ suốt ngày làm việc ở văn phòng sẽ không bao giờ biết được. Các cụ xưa thường bảo “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hôm nay với riêng tôi, có thể nói thế này: “Tôi đi một ngày đàng để tìm lại những điều tưởng chừng đã mất và sự thật thì đã mất ở nhiều nơi rồi!” Đó là tấm lòng chân thực, đôn hậu của những người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm không ra khỏi ngọn núi, khu rừng mình đang sinh sống: Đó là ý thức trách nhiệm với cộng đồng- việc giữ cho người khác mấy con vịt nhỏ lạc đàn. Bất kể là ai, đã đến nhà là khách quý- khách được mời nước, mời cơm chu đáo. Một nút thắt của nắm cỏ gianh xác lập được chủ quyền của người đó với vật thể có trong thiên nhiên- cụ Slin đánh dấu tổ ong rừng. Nghèo nhưng tấm lòng thơm thảo- thái độ và cử chỉ mến khách của 2 mẹ con chị chủ vườn dưa. Một ngày được tiếp xúc với nhiều nét đẹp văn hoá như thế tôi thấy cuộc đời đáng yêu biết bao nhiêu! Tôi nghiệm ra rằng, ở vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh này những nét tinh hoa văn hoá- lối ứng xử thấm đẫm tình người, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc vẫn được lưu giữ và trường tồn cùng năm tháng.

LSO-Tháng 6 năm 2009, tôi và một cán bộ trong Ban Tuyên giáo Huyện ủy được cử vào xã Ái Quốc tổng hợp tư liệu để viết cuốn lịch sử “Khu du kích chống thực dân Pháp Đông Quan- Xuân Dương”. Tôi không muốn nói đến những vất vả của việc đi tìm những địa danh đã đi vào lịch sử của huyện như một huyền thoại và những con người làm nên trang sử ấy cũng đã già yếu và chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay. Trong bài viết này điều tôi muốn nói đến chính là lối ứng xử giữa người với người rất văn hoá ở nơi có thể gọi theo cách dân dã là “chó ăn đá, gà ăn sỏi“, là nơi rừng thiêng nước độc, là nơi “Khỉ ho cò gáy“ này. Đây chính là một nét đẹp văn hoá của các vùng quê Việt Nam xưa, rất tiếc là cùng thời gian nó đã bị mai một đi, nay chỉ còn có ở nông thôn vùng III- Xã Ái Quốc, huyện Lộc Bình.
Ái Quốc là xã vùng III, nằm ở phía Tây nam của huyện, với diện tích 106km2, có 2363 nhân khẩu cư trú trên 12 thôn bản; là xã có tới 99% dân số là dân tộc Dao, tỷ lệ hộ nghèo của xã lên tới 86,09%, cách trung tâm huyện lỵ Lộc Bình 45km, đường sá đi lại rất khó khăn. Vì vậy, khi nói đến vùng đất này, người ta thường nhớ đến một câu nói nổi tiếng của tiến sĩ Hoàng Văn An: “Yêu nước mới vào được Ái Quốc!” Từ thị trấn Lộc Bình vào Ái Quốc phải đi qua thị trấn Na Dương và các xã Đông Quan, Nam Quan, Xuân Dương. Hết đoạn đường rải đá cấp phối thì đến đoạn đường đất đỏ được coi là tương đối bằng phẳng, bắt đầu đến đoạn quanh co, dốc thẳng đứng, đá hộc lổn nhổn do những trận lũ rừng quẳng ra giữa lối đi.
Hết trèo đèo lại lội suối, phải hơn 3 tiếng đồng hồ chúng tôi mới đến được trung tâm xã Ái Quốc. Mái ngói thấp thoáng dưới tán cây rừng, mỗi nhà án ngữ trên một sườn đồi. Có thể nhìn thấy nhà nhau nhưng để đi đến nơi phải mất vài chục phút. Đã chủ động về thời gian làm việc nên chúng tôi chưa vào trụ sở xã vội, mà ghé thăm một nhà dân nằm dưới chân đồi, cạnh con suối nhỏ. Ngôi nhà được xây bằng cay (loại gạch mộc chưa nung qua lửa) còn mới. Ngoài sân còn ngổn ngang một số đồ đạc, củi đóm. Điều đó chứng tỏ chủ nhân vừa chuyển từ nơi khác về nhà mới chưa lâu! Nghe tiếng chó sủa, chủ nhà ra xua chó và mời khách vào nhà. Mặc dù chưa quen biết, chủ nhà là người đàn ông trạc ngoài bốn mươi nhanh tay lấy ghế mời khách ngồi và tìm chè pha nước uống. Một người phụ nữ tầm thước, nhanh nhẹn vừa quẩy trên vai 2 thùng nước đầy vừa đuổi vào sân gần chục con vịt nhỏ. Đặt gánh nước xuống chị vội vàng lấy tấm xéc (dụng cụ đan bằng tre để nhốt gà, vịt nhỏ) quây vội đàn vịt lại và giải thích với chồng: Đàn vịt con này ướt hết lông, có lẽ xuôi theo suối đã lâu, chắc của nhà ai ở bản trên bị lạc, mình thấy thì nhốt lại giúp người ta, ai đến tìm thì trả họ, không nhốt lại nó sẽ theo suối đi suốt ngày thôi! Quay lại, thấy chúng tôi, chị vui vẻ cất tiếng chào. Vừa uống xong chén nước chè nóng hổi đã thấy chị bưng đĩa bánh gio vàng ươm và bát mật ong rừng vàng sánh đặt lên bàn. Chị so đũa rồi gắp bánh vào bát cho chúng tôi, chị mời: Mời các chị ăn thử bánh gio, hôm qua là tết mồng 5 tháng 5 mà! Chúng tôi nói là chưa đói, vì lúc này mới gần 10 giờ trưa nhưng chị cứ ép chúng tôi ăn bằng được. Cảm động trước tấm lòng của chị chủ nhà, chúng tôi không khách khí nữa. Nhai miếng bánh gio dẻo thơm màu hổ phách chấm với mật ong rừng ngọt lịm trong không khí thân tình như đón người ruột thịt mới đi xa về của vợ chồng chị chủ nhà, tôi cảm thấy đây là thứ bánh gio ngon nhất từ trước tới nay tôi mới được ăn!
Trong khi chúng tôi đang ăn bánh, chị đã nhanh tay vo gạo nấu cơm trưa, chúng tôi xua tay từ chối thì chị bảo: Các chị cứ thong thả, chẳng mấy khi về được tới nhà em, các chị ăn với gia đình em một bữa cơm rau gọi là mừng nhà mới. Hôm qua em vừa chuyển nhà từ bên kia suối sang đây cho gần với mấy đám ruộng hơn. Nhà em chỉ có 5 người, 2 cháu trai về nhà cũ chuyển đồ từ sáng, bố chồng em đi chăn trâu cũng sắp về. (Lệ ở đây là khách đến nhà, dù quen thân hay chỉ là người qua đường đều được chủ nhà mời cơm, không để khách phải nhịn đói). Chị vừa dứt lời thì dưới chân dốc đã nghe tiếng đuổi trâu ùi ùi của ông cụ. Cụ Triệu Văn Slin đã trên 80 tuổi vừa đuổi trâu vào chuồng vừa quẳng vào đống củi trước nhà một khúc cây dài đã khô. Trên lưng cụ còn có một bó lá rừng, cụ hái để nấu chăn lợn. Chúng tôi đứng dậy chào cụ, khen cụ đã già mà còn khoẻ và làm được nhiều việc giúp con cháu. Cụ thong thả nhấp chén nước chè và hỏi thăm chúng tôi. Tôi thưa với cụ:
– Cháu ở thị trấn Lộc Bình. Lúc trẻ, cụ có hay đi chợ Lộc Bình không ạ?
Cụ thong thả hút thuốc, thả ánh mắt xa xăm nhìn theo làn khói, cụ nói như nói với chính mình:
– Đã lâu lắm rồi, bây giờ Háng Bục (tên cũ của chợ Lộc Bình )chắc đã đổi thay nhiều lắm.
Như sực nhớ ra điều gì, giọng cụ hồ hởi khoe với các con:
– Ké vừa thấy một tổ ong rừng trên lối vào Nà Xả đấy!
Cả con trai, con dâu cụ đều hỏi dồn:
– Sao ké không lấy ngay? Để đấy người ta lấy mất thì sao?
Ông cụ thủng thẳng:
– Không ai dám lấy đâu, tao đã lấy cỏ gianh buộc thắt nút vào cái cây đó để đánh dấu rồi! Khoảng hai chục ngày nữa, đợi nó lớn hơn hẵng đi lấy.
Lúc này anh con trai mới thở phào nhẹ nhõm. Thì ra, ở nơi xa xôi hẻo lánh này, người ta vẫn giữ một thói quen đẹp, một thứ luật bất thành văn chỉ có ở vùng núi: Để xác lập chủ quyền của ai đó với một tổ ong rừng, một cây thuốc quý thì người ấy chỉ việc bứt một nắm cỏ gianh buộc thắt nút vào cây ấy để đánh dấu là được, người khác sẽ tôn trọng và không có ý định tơ tưởng đến cây thuốc quý hoặc tổ ong ấy nữa mà không cần biết chủ nhân nó là ai! Đây quả là một nét đẹp văn hoá cần giữ gìn và phát huy, phải không các bạn?
Bịn rịn chia tay gia đình cụ Slin, chúng tôi vào trụ sở UBND xã xin được làm việc với Bí thư Đảng uỷ xã nhưng phải đợi đến đầu giờ làm việc buổi chiều vì sáng nay xã có hội nghị. Đây là dịp may hiếm có, chúng tôi lang thang ra ngoài bờ suối ngắm cảnh. Vui chân, chúng tôi đến bên một mảnh vườn tương đối rộng trồng nào dưa hấu, dưa chuột, lại có cả dưa lê nữa. Loại dưa nào cũng sai và tươi ngon đang độ chín. Trên ruộng dưa một già, một trẻ đang thu hoạch. Người mẹ khoảng ngoài 50 tuổi dáng vẻ lam lũ, quê mùa. Cô gái ngoài đôi mươi trẻ trung trong bộ sơ mi hoa và quần bò đã cũ. Nghe tiếng người lạ hai mẹ con ngẩng lên mời chào đon đả:
– Các cô đi đâu mà qua đây? Vào đây ăn dưa đã!
Không kịp để chúng tôi trả lời, người mẹ đã giục cô con gái:
– Con bổ dưa mời các cô đi!
Chúng tôi sà xuống hỏi thăm:
– Hai mẹ con chị hái dưa đi bán à?
– Các cô cứ ăn dưa đi đã, trồng để nhà ăn thôi, không bán đâu- Chị trả lời.
Dưa hấu trồng trên đất phù sa bên suối ngọt và mát quá, hơn hẳn dưa mua ở ngoài chợ, vừa non vừa nhạt. Hai mẹ con chị vừa hỏi thăm chúng tôi từ đâu đến vừa nhanh tay lựa cắt những quả dưa hấu đã già cho vào hai đôi sảo. Chị cho mấy quả dưa vào bao tải đặt lên bờ và bảo chúng tôi:
– Lát nữa các cô lấy mấy quả dưa này đi ăn dọc đường nhé!
Tôi hỏi chị chỗ dưa này bao nhiêu tiền? Chị nói là của nhà làm ra, chị cho chứ không lấy tiền. Chúng tôi nhìn nhau ái ngại. Từng này dưa bán ở chợ huyện cũng được mấy chục ngàn đồng. Tôi biết, mấy chục ngàn bạc không phải nhiều nhặn gì nhưng với người nông dân một nắng hai sương, nhất là nông dân vùng sâu này là rất quý! Để trồng được những quả dưa như thế này phải mất nhiều công sức chăm sóc lắm. Tôi nói:
– Nếu chị không lấy tiền thì chúng tôi không lấy dưa đâu, vả lại đường xấu quá, về đến nhà có lẽ dưa bị dập nát hết.
Chị cười và bảo:
– Mấy quả dưa có đáng gì đâu, chị em mình gặp nhau là quý rồi!
Từ chối mãi không được, cuối cùng chúng tôi đành xin chị mỗi người một quả cho chị vui lòng.
Xong việc, tạm biệt Ái Quốc, xã vùng III xa xôi, hẻo lánh của huyện Lộc Bình, nơi mà không phải người dân trong huyện nào cũng có cơ may đến được, chúng tôi rất vui. Vui vì hoàn thành công việc cơ quan giao cho và còn vui vì gặp rất nhiều điều thú vị trong cuộc sống mà nếu chỉ suốt ngày làm việc ở văn phòng sẽ không bao giờ biết được. Các cụ xưa thường bảo “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hôm nay với riêng tôi, có thể nói thế này: “Tôi đi một ngày đàng để tìm lại những điều tưởng chừng đã mất và sự thật thì đã mất ở nhiều nơi rồi!” Đó là tấm lòng chân thực, đôn hậu của những người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm không ra khỏi ngọn núi, khu rừng mình đang sinh sống: Đó là ý thức trách nhiệm với cộng đồng- việc giữ cho người khác mấy con vịt nhỏ lạc đàn. Bất kể là ai, đã đến nhà là khách quý- khách được mời nước, mời cơm chu đáo. Một nút thắt của nắm cỏ gianh xác lập được chủ quyền của người đó với vật thể có trong thiên nhiên- cụ Slin đánh dấu tổ ong rừng. Nghèo nhưng tấm lòng thơm thảo- thái độ và cử chỉ mến khách của 2 mẹ con chị chủ vườn dưa. Một ngày được tiếp xúc với nhiều nét đẹp văn hoá như thế tôi thấy cuộc đời đáng yêu biết bao nhiêu! Tôi nghiệm ra rằng, ở vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh này những nét tinh hoa văn hoá- lối ứng xử thấm đẫm tình người, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc vẫn được lưu giữ và trường tồn cùng năm tháng.

Hoàng Kim Dung