Thứ năm,  02/12/2021

Bảo đảm vận hành ổn định, an toàn lưới điện truyền tải quốc gia

Ngày 22-4-2008, Hội đồng quản trị Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN) đã ban hành Quyết định số 223/QÐ-EVN thành lập Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) trên cơ sở tổ chức lại bốn Công ty Truyền tải điện 1, 2, 3, 4 (PTC1, PTC2, PTC3, PTC4) và ba Ban Quản lý dự án các công trình điện miền bắc, miền trung, miền nam (AMB, AMT, AMN). Với tinh thần đoàn kết, nhất trí, áp dụng nhiều giải pháp tích cực, đồng bộ, EVNNPT đang từng bước vượt mọi khó khăn, thách thức, đầu tư và đưa vào vận hành kịp thời nhiều công trình lưới điện truyền tải trọng điểm, góp phần quan trọng bảo đảm cung ứng điện ổn định, an toàn cho đất nước.

Ngày 22-4-2008, Hội đồng quản trị Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN) đã ban hành Quyết định số 223/QÐ-EVN thành lập Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) trên cơ sở tổ chức lại bốn Công ty Truyền tải điện 1, 2, 3, 4 (PTC1, PTC2, PTC3, PTC4) và ba Ban Quản lý dự án các công trình điện miền bắc, miền trung, miền nam (AMB, AMT, AMN). Với tinh thần đoàn kết, nhất trí, áp dụng nhiều giải pháp tích cực, đồng bộ, EVNNPT đang từng bước vượt mọi khó khăn, thách thức, đầu tư và đưa vào vận hành kịp thời nhiều công trình lưới điện truyền tải trọng điểm, góp phần quan trọng bảo đảm cung ứng điện ổn định, an toàn cho đất nước.

Công ty EVNNPT hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên do EVN là chủ sở hữu, có chức năng, nhiệm vụ chính là quản lý vận hành và đầu tư phát triển lưới điện truyền tải (LÐTT) có cấp điện áp từ 220kV trở lên trên phạm vi toàn quốc và từng bước liên kết LÐTT các nước trong khu vực. EVNNPT gặp khá nhiều khó khăn và thách thức, nhất là trong giai đoạn đầu thành lập. Nổi lên là các vấn đề: khả năng của LÐTT quốc gia chưa đáp ứng  yêu cầu truyền tải điện, tình trạng quá tải xảy ra ở cả ba miền, nhất là quá tải trên diện rộng ở khu vực miền bắc và miền nam, nguy cơ sự cố cao; giá truyền tải điện quá thấp, chỉ chiếm khoảng 6% giá bán điện bình quân toàn EVN, chỉ đủ bù đắp chi phí sản xuất tối thiểu, chưa bao gồm lỗ chênh lệch tỷ giá và không có đủ vốn đối ứng phục vụ công tác đầu tư xây dựng (ÐTXD); các chỉ tiêu tài chính xấu, không đáp ứng yêu cầu của các tổ chức cho vay vốn và quy định của Bộ Tài chính; nhu cầu đầu tư LÐTT ngày càng tăng cao trong khi vốn khấu hao cơ bản của Tổng công ty chỉ đủ trả nợ gốc và lãi vay, việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn; yêu cầu tiến độ các công trình rất căng thẳng, đặc biệt là tiến độ các công trình lưới điện đồng bộ các công trình nguồn điện; nhiều công trình đã bị chậm tiến độ trong khi công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng phục vụ cho ÐTXD gặp nhiều khó khăn, trở ngại.

Ðứng trước tình hình trên, tập thể cán bộ, công nhân viên (CBCNV) Tổng công ty đã hết sức nỗ lực phấn đấu, từng bước tháo gỡ khó khăn, vượt qua thách thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được Ðảng, Nhà nước và EVN giao bằng nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả, đồng bộ, hoàn thành tốt sứ mệnh “bảo đảm truyền tải điện an toàn, liên tục, ổn định cho các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng và thị trường điện Việt Nam”. Năm năm qua, EVNNPT đã  phát triển mạnh LÐTT với quy mô và công nghệ ngày càng hiện đại. Tính đến ngày 31-5-2013, EVNNPT quản lý vận hành tổng cộng hơn 16.591 km đường dây, trong đó có 4.841 km đường dây 500kV, 11.750 km đường dây 220kV, tăng gần 50% so thời điểm tháng 7-2008; 96 trạm biến áp (TBA) gồm 18 TBA 500kV, 75 TBA 220kV với tổng dung lượng 45.696 MVA, tăng hơn 84% so thời điểm tháng 7-2008. LÐTT quốc gia đã vươn tới hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước và từng bước kết nối LÐTT các nước trong khu vực như đường dây nhiều mạch, nhiều cấp điện áp, cáp ngầm cao áp 220 kV, trạm GIS 220 kV, hệ thống điều khiển tích hợp bằng máy tính, thiết bị định vị sự cố, giám sát dầu trực tuyến… Các chỉ tiêu suất sự cố đường dây và TBA đều thấp hơn so với các chỉ tiêu EVN giao. Năng suất lao động bình quân năm 2012 đạt 15.875 kW giờ/người, tăng hơn 46,3% so với năm 2008. Tỷ lệ tổn thất điện năng truyền tải giảm từ 3,14% năm 2008 xuống còn 2,33% năm 2012, kế hoạch năm 2013 là 2,3%. Tính đến hết tháng 6-2013, EVNNPT đã truyền tải an toàn gần 440 tỷ kW giờ điện, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt hơn 10%. Năm 2013, sản lượng điện truyền tải dự kiến đạt 114,16 tỷ kW giờ, tăng hơn 60% so năm 2008.

Lĩnh vực ÐTXD mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về vốn và bồi thường, giải phóng mặt bằng nhưng vẫn đạt được nhiều kết quả khả quan, về cơ bản đáp ứng được tiến độ các công trình trọng điểm. Năm năm qua, EVNNPT đã đóng điện, đưa vào vận hành an toàn 212 công trình, tổng giá trị đầu tư đạt gần 64 nghìn tỷ đồng. Dự kiến năm 2013, EVNNPT sẽ đầu tư tổng cộng khoảng 15.700 tỷ đồng, tăng gần 27% so với năm 2012, trong đó đầu tư thuần là 12.040 tỷ đồng, tăng hơn 32% so năm 2012. Các dự án LÐTT đồng bộ Nhà máy Thủy điện Sơn La, các nhà máy thủy điện khu vực Ðông Bắc, miền trung, Tây Nguyên, miền nam cơ bản bảo đảm tiến độ. Ðặc biệt, ngày 28-12-2012, EVNNPT đã đóng điện thành công, đưa vào vận hành an toàn đường dây 220kV Ðác Nông-Phước Long-Bình Long sau hơn 12 tháng thực hiện, đạt kỷ lục về tiến độ, điển hình của sự quyết tâm, bám sát công việc của CBCNV, là cố gắng rất lớn của EVNNPT trong bối cảnh hiện nay.

 Sau bốn năm hoạt động hết sức khó khăn, năm 2012, EVNNPT đã có lợi nhuận mặc dù còn rất thấp, nhưng có ý nghĩa rất lớn, đánh dấu sự chuyển biến tích cực về tình trạng tài chính. Nhờ đó, EVNNPT có điều kiện dành một phần bù đắp khoản lỗ chênh lệch tỷ giá của những năm trước, đồng thời mua sắm trang thiết bị phục vụ việc vận hành lưới điện. Công tác quản lý và quản trị doanh nghiệp đã có nhiều chuyển biến tích cực, điển hình là hoàn thành việc xóa bỏ các công trình lâm quản tồn tại từ nhiều năm trước. EVNNPT đã hết sức nỗ lực trong việc thu xếp vốn và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn theo quy định của pháp luật nhằm đáp ứng vốn cho ÐTXD. Năm năm qua, EVNNPT đã thu xếp và ký kết hợp đồng tín dụng vay 36.493 tỷ đồng, trong đó 16.720 tỷ đồng từ các tổ chức tài chính, ngân hàng trong nước và 943 triệu USD từ các tổ chức quốc tế.

Công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất được EVNNPT hết sức coi trọng, đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Từ năm 2008 đến nay, toàn EVNNPT đã có hơn 1.000 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Nhiều đề tài đã được đánh giá cao và được ứng dụng trong sản xuất như: lập quy trình bảo dưỡng máy biến áp 500kV của PTC2; vệ sinh cách điện LÐTT đang mang điện bằng nước áp lực cao của PTC3; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc thực hiện thí điểm TBA không người trực tại các TBA 220kV Thủ Ðức và Bến Tre.

 Bên cạnh việc làm tốt các nhiệm vụ chuyên môn, EVNNPT cũng rất quan tâm công tác xã hội. Các tổ chức Công đoàn, Ðoàn thanh niên của EVNNPT luôn bám sát nhiệm vụ chính trị để tổ chức phong trào, tập hợp đông đảo người lao động tham gia các phong trào thi đua. Công tác đền ơn đáp nghĩa luôn được CBCNV trong toàn Tổng công ty coi trọng và phát huy, đến nay toàn EVNNPT đang chăm lo, phụng dưỡng 16 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng với tổng số tiền hơn 500 triệu đồng, xây dựng tám ngôi nhà “Mái ấm Công đoàn” với tổng số tiền hơn 400 triệu đồng; ủng hộ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt; tham gia chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ với số tiền hàng tỷ đồng. Ðảng, Nhà nước, các bộ, ngành đã ghi nhận, đánh giá cao thành tích của tập thể CBCNV Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia trong quá trình xây dựng và phát triển, đã tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, và mới đây nhất Huân chương Lao động hạng ba cho EVNNPT vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua liên kết xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La, cùng nhiều hình thức khen thưởng khác cho các cá nhân, tập thể EVNNPT.

Chặng đường phía trước đối với EVNNPT vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhiệm vụ rất nặng nề: LÐTT vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, tình trạng quá tải còn xảy ra ở nhiều khu vực, nguy cơ sự cố gây mất điện trên diện rộng. Khối lượng ÐTXD LÐTT các năm tới rất lớn. Kể từ năm 2014, để đáp ứng nhu cầu truyền tải điện, EVNNPT sẽ phải đầu tư các công trình LÐTT trung bình hơn 17 nghìn tỷ đồng/năm… Ðiều đó đặt ra cho EVNNPT phải củng cố, tăng cường quản lý vận hành, đổi mới công tác quản lý kỹ thuật, tăng cường kiểm tra thiết bị, bảo vệ an toàn hành lang LÐTT quốc gia; tăng cường kỷ cương, kỷ luật, phát hiện sớm các khiếm khuyết, tồn tại, không để xảy ra sự cố chủ quan, hạn chế và xử lý nhanh chóng các sự cố khách quan; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án trọng điểm như đường dây 500kV Plây Cu-Mỹ Phước-Cầu Bông, TBA 500kV Cầu Bông và các đường dây đấu nối, các đường dây 500kV Vĩnh Tân-Sông Mây, Phú Mỹ-Sông Mây, Sông Mây-Tân Ðịnh, Quảng Ninh-Mông Dương; bám sát chính quyền các địa phương để tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Tập trung thu xếp vốn cho 47 dự án cấp bách năm 2013 như đường dây 500kV Lai Châu-Sơn La; nâng dung lượng tụ bù đường dây 500kV Nho Quan-Hà Tĩnh, đường dây 220kV Hà Ðông-Thành Công… Củng cố và tăng cường công tác quản lý và quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu và quy mô ngày càng lớn của EVNNPT. Ðẩy mạnh công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực gắn với công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ.

Về lâu dài, EVNNPT xác định phải tập trung đầu tư mở rộng kết hợp với cải tạo, nâng cấp, đầu tư chiều sâu để đến năm 2020 Việt Nam có một hệ thống LÐTT hiện đại và thông minh, đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, liên kết LÐTT các nước trong khu vực; Phấn đấu đưa giá truyền tải điện đạt tới mức hợp lý để bảo đảm các chỉ tiêu tài chính theo quy định, bảo toàn và phát triển phần vốn nhà nước, bảo đảm nguồn tài chính phục vụ ÐTXD của EVNNPT. Cụ thể, từ nay đến năm 2020, EVNNPT phấn đấu đạt tiêu chuẩn độ tin cậy N-1 đối với toàn hệ thống LÐTT và N-2 ở các khu vực quan trọng, đáp ứng các điều kiện để EVN cung cấp đủ điện cho đất nước với sản lượng điện truyền tải ở mức từ 265 đến 275 tỷ kW giờ/năm; tỷ lệ tổn thất điện năng truyền tải dưới 2%; tỷ lệ số TBA không người trực là 75%; 100% TBA đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường theo ISO 14001; toàn bộ LÐTT được trang bị các hệ thống giám sát, định vị sự cố, cảnh báo sự cố trực tuyến cho các máy biến áp; hoàn thành các quy định, tiêu chuẩn về vận hành LÐTT đáp ứng yêu cầu vận hành hệ thống có sự tham gia của nhà máy điện hạt nhân.

amesmall” src=”http://nhandan.com.vn/media/k2/galleries/20690202/655688787.jpg” border=”0″ />
Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) và nhà thầu lắp đặt hệ thống tụ bù Trạm biến áp 500 kV Ðác Nông.

Theo Nhandan